Liên hệ-Góp ý |  English 

ĐẠI HỌC HUẾ

VIỆN TÀI NGUYÊN, MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC

Thứ Bảy, 25.05.2013
    
 

 Wikipedia   
   
get info from WikiPedia
English

Tiếng Việt
   
 Từ điển ngoại ngữ   
   

Tra theo từ điển:


 

   
 Wolfram-Computational Knowledge   
   
Bạn muốn hỏi gì?
* Bạn có thể hỏi tất cả lĩnh vực, đặc biệt là toán, lý, hóa...bằng tiếng Anh
   

VIỆN TÀI NGUYÊN, MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC (IREB)
- ĐẠI HỌC HUẾ


ĐỀ CƯƠNG DỰ ÁN

“THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CẤP CỘNG ĐỒNG
VÀ CÁC CHÍNH SÁCH LIÊN QUAN Ở TỈNH THỪA THIÊN HUẾ”

Đề cương dự án trình nộp lên Đại sứ quán Phần Lan tại Hà Nội

 


Huế, tháng 6 năm 2009


Phần 1.

Giới thiệu chung về dự án

Các tác động và đe dọa của hiện tượng ấm lên toàn cầu đang diễn ra khá phổ biến. Hiện tượng giản nở nhiệt của đại dương do nhiệt độ bề mặt gia tăng kết hợp với băng tan đã làm cho mực nước biển dâng cao. Hậu quả của hiện tượng ấm lên toàn cầu là, các hình thái, tần số và cường độ các hiện tượng cực đoan, chẳng hạn như hội tụ nhiệt đới (bao gồm cả bão), lũ lụt, hạn hán và các đợt mưa lớn cũng sẽ gia tăng ngay cả khi nhiệt độ trung bình tăng tương đối thấp (UNFCCC, 2007). Biến đổi khí hậu gây ra các ảnh hưởng khác nhau lên môi trường và đời sống kinh tế xã hội và các lĩnh vực liên quan như tài nguyên nước, nông nghiệp và an ninh lương thực, sức khỏe con người, hệ sinh thái lục địa và biển, đa dạng sinh học và các khu vực ven biển. Những thay đổi về chế độ mưa nhiều khả năng dẫn đến thiếu nước trầm trọng và/hoặc gây lũ lụt. Các sông băng tan có thể gây ra lũ lụt và lỡ đất. Tăng nhiệt độ sẽ làm thay đổi cơ cấu cấu mùa vụ, điều này gây ảnh hưởng đến an ninh lương thực và làm thay đổi sự lan truyền của các tác nhân gây bệnh và gây gia tăng nguy cơ nhiễm các bệnh như sốt rét và sốt xuất huyết.

Biến đổi khí hậu và nước biển dâng có thể gây ngập lụt trên diện rộng, làm tắc nghẽn gây hệ thống thoát nước, tăng cường xói mòn đường bờ biển và xâm nhập mặn, gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp và sử dụng nước cho sinh hoạt. Đồng thời, những hiện tượng này cũng tạo ra các rủi ro cho hệ thống cơ sở hạ tầng ven biển như đường giao thông, bến cảng và nhà máy cũng như khu đô thị và các cộng đồng ven biển. Sự gia tăng mực nước biển cũng như nhiệt độ nước biển sẽ gây ra các tác động tiêu cực lên các rạng san hô và rừng ngập mặn, những hệ sinh thái được xem là nền móng sinh học cho nghề nuôi trồng và đánh bắt thủy sản ven biển.

Theo các báo cáo cho thấy rằng, các quốc gia đang phát triển là đối tượng dễ bị tổn thương nhất do biến đổi khí hậu bởi vì các quốc gia này có các nguồn lực để thích ứng về mặt xã hội, kỹ thuật và tài chính ở mức độ khiêm tốn hơn. Biến đổi khí hậu dự đoán là sẽ có những tác động khôn lường đến sự phát triển bền vững của các quốc gia đang phát triển, trong đó bao gồm cả khả năng nhằm đạt được các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của LHQ vào năm 2015 (UN, 2007).

Tính cấp thiết của dự án

Các kịch bản mới nhất về BĐKH do Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu và Ngân hàng Thế giới (IPCC, 2007, Ngân hàng Thế giới, 2007) đã chỉ ra rằng Việt Nam là một trong năm quốc gia bị ảnh hưởng nhiều nhất do nước biển dâng cao và sự gia tăng về cường độ cũng như tần suất các hiện tượng thời tiết cực đoan. Nếu nước biển dâng 1m, nhiều khả năng 5% diện tích của quốc gia này sẽ bị ngập và 11% dân số sẽ phải di dời lên vùng cao hơn. Do phần lớn dân số của Việt Nam sống phụ thuộc vào nông nghiệp hoặc các nguồn tài nguyên thiên nhiên vì thế sinh kế của những người này sẽ bị ảnh hưởng lớn bởi các điều kiện thời tiết và biến đổi khí hậu, đặc biệt là những người sống ở vùng ven biển thường xuyên chịu tác động bởi các cơn bão, bão nhiệt đới, bão lốc xoáy, nước mặn xâm thực và nước biển dâng. Nhận thức được rằng biến đổi khí hậu sẽ gây ra các rủi ro cho phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam đồng thời cũng đặt ra các thách thức để đạt được các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ cũng như các mục tiêu phát triển, vì thế trong thời gian gần đây chính phủ đã xác định thích ứng với BĐKH được ưu tiên hàng đầu và mang tính cấp thiết thông qua việc Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định thiết lập Chương trình mục tiêu quốc gia về Biến đổi khí hậu.

Đánh giá mức độ tổn thương đối với các thay đổi môi trường là một bước quan trọng đầu tiên nhằm nhận diện các giải pháp thích ứng thích hợp về mặt chính sách. Đó cũng là lợi ích dễ thấy trong các mục tiêu phát triển tức thời. Trong bối cảnh BĐKH toàn cầu, mức độ chịu tác động và dễ bị tổn thương của một quốc gia do sự dao động và biến đổi của khí hậu đóng vai trò chủ chốt trong quá trình xác định vị trí của những đại diện quốc gia trong đàm phán khí hậu.

Tuy nhiên, bởi vì những khó khăn của địa phương, các đánh giá về ảnh hưởng và tính dễ bị tổn thương ở nhiều khu vực nhỏ hơn thường bị hạn chế do thiếu sự tham gia của nhà khoa học trong nước. Điều này cho thấy, rõ ràng cần phải tăng cường năng lực địa phương để các nghiên cứu này có thể được thực hiện bởi các nhà khoa học tại chỗ cũng như phân tích, tận dụng hiểu biết về hiện trạng của địa phương và chỉ đạo phân tích theo tình hình cụ thể của địa phương.

Dự án này sẽ tăng cường năng lực nghiên cứu của địa phương thông qua một dự án nghiên cứu điển hình (case study) đa lĩnh vực về chủ đề BĐKH và thích ứng BĐKH, nhấn mạnh đến cả các vấn đề khoa học lẫn chính sách. Các nhà nghiên cứu địa phương sẽ đào tạo bởi các buổi tập huấn do các chuyên gia trong nước và các cộng tác viên quốc tế mà IREB đã yêu cầu.

Các nghiên cứu/dự án liên quan: Ở Việt Nam, một số ít các nghiên cứu về tác động của BĐKH đã được thực hiện ở duyên hải miền Trung, trong đó một số dự án đã kết thúc. Các dự án thích ứng với BĐKH hầu hết được thực hiện ở duyên hải miền Trung và triển khai ở cấp địa phương (tỉnh, huyện hoặc xã) và thường được kết nối hoặc kết hợp với các dự án khác đang triển khai, những dự án được tài trợ bởi các tổ chức phi chính phủ (NGO) hoặc nhà tài trợ quốc tế. Các dự án nhằm xây dựng nhà và các ngôi làng vững chắc hơn và làm cho việc sản xuất tại các cộng đồng có nguy cơ rủi ro có khả năng ứng phó cao hơn (CECI - Trung tâm Nghiên cứu và Hợp tác Quốc tế Canada).

Hội chữ thập đỏ Việt Nam, phối hợp với Hội Chữ thập đỏ Hà Lan (NRC) đã triển khai thực hiện một dự án biến đổi khí hậu ở 5 tỉnh duyên hải giai đoạn 2003-2005. Dự án đã đạt được một số thành quả như: đã thu thập tài liệu và thông tin về tác động của BĐKH và các hành động thích ứng nhằm đánh giá mức độ dễ bị tổn thương và khả năng thích ứng của 30 xã bị ảnh hưởng nhiều nhất, ngoài việc nâng cao nhận thức và xây dựng năng lực thích ứng cho người dân địa phương. Dự án đã tạo ra cơ hội cho các thành viên Hội chữ thập đỏ Việt Nam và tình nguyện viên ở tất cả các cấp tham gia các khóa đào tạo nâng cao và đồng thời nâng cao nhận thức cho các nhà ra quyết định.

Hội chữ thập đỏ Viêt Nam và Hội chữ thập đỏ Hà Lan cũng đã triển khai thực hiện dự án "Trồng rừng để thích ứng BĐKH" ở Quảng Bình với mục đích ổn định các đụn cát ven biển thông qua việc trồng cây phi lao và giúp đỡ người nghèo hồi phục thu nhập và cải thiện đời sống. Tổ chức Phát triển Hà Lan (SNV) phối hợp với Hội chữ thập đỏ Việt Nam hiện đang tiến hành các cuộc điều tra như một phần của một loạt các dự án tài trợ theo Cơ chế phát triển sạch (CDM) tại địa bàn tỉnh Quảng Bình.

Địa điểm thực hiện dự án: Thừa Thiên Huế là một tỉnh ven biển nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung Việt Nam, giáp với biển Đông, Lào ở phía Tây, tỉnh Quảng Trị ở phía Bắc, thành phố Đà Nẵng và Quảng Nam ở khu vực phía Nam. TTH có diện tích 5.054 km2 và dân số là 1,1 triệu. Địa bàn tỉnh bao gồm 9 đơn vị hành chính: thành phố Huế (đô thị loại I và là cố đô) và 8 huyện (Hương Thủy, Phú Vang, Hương Trà, Phú Lộc, Nam Đông, A Lưới, Quảng Điền, Phong Điền) (Hình 1). Trong những năm gần đây, Thừa Thiên Huế thường xuyên chịu ảnh hưởng của bão và lũ lụt kéo dài. Thừa Thiên Huế là một trong những địa phương chịu nhiều thiên tai tại Việt Nam. Mặc dù chính quyền địa phương trong thời gian gần đây đã có nhận thức về mối quan hệ giữa các hiện tượng thời tiết cực đoan và biến đổi khí hậu, nhưng họ vẫn chưa có sự hiểu biết sâu sắc về các vấn đề này, đặc biệt là các tác động và tính dễ bị tổn thương do BĐKH ở cấp độ cộng đồng, cũng như việc lồng ghép các biện pháp thích ứng BĐKH vào chiến lược và kế hoạch phát triển ở cấp tỉnh, huyện và cấp xã.

Hình 1. Bản đồ mô tả vị trí dự án của tỉnh Thừa Thiên Huế

Huyện Quảng Điền và Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế có tỉ lệ hộ nghèo vào khoảng 19% và 27%. Quảng Thành (huyện Quảng Điền) và Hương Phong (huyện Hương Trà) là các xã nghèo ven biển chuyên ngư nghiệp và nông nghiệp. Người dân địa phương khu vực này này thường xuyên chịu các thiên tai nghiêm trọng như bão và lũ lụt kéo dài, các hiện tượng đang ngày càng trở nên thường xuyên hơn với cường độ mạnh hơn do ảnh hưởng của BĐKH. Vì thế những người dân ở đây dễ bị tổn thương hơn do tác động trực tiếp và gián tiếp của BĐKH. Các tác động này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản và đó chính là sinh kế của người dân. Người ta dự đoán rằng BĐKH có thể tác động đến các xã như sau:

• tổn thất về con người, bao gồm những người trong độ tuổi lao động;
• đau ốm sau lũ lụt do bệnh lan truyền trong nước, thiếu lương thực và chăm sóc sức khỏe;
• mất tài sản, bao gồm cả nhà ở (thường là tài sản có giá trị nhất) và kho thực phẩm. Tàu thuyền và các lưới cá cũng có thể bị tàn phá nặng nề ở vùng ven biển;
• mất mùa, ảnh hưởng đến an toàn lương thực và thu nhập lâu dài;
• mất gia súc, do lụt cuốn trôi và bệnh dịch có thể lan tràn sau lũ;
• phá hủy hạ tầng giao thông, thông tin liên lạc và cung cấp điện;
• phá hủy cơ sở hạ tầng thủy lợi (kiểm soát lũ lụt và thủy lợi);
• thiệt hại cho các trường học và các cơ sở chăm sóc sức khỏe.

Hiện nay, hầu hết các đánh giá tác động của BĐKH ở cấp địa phương thường chỉ tập trung vào việc đánh giá tổn thất trong khi đó các đánh giá về tính dễ bị tổn thương do BĐKH và khả năng thích ứng BĐKH vẫn còn hạn chế. Vì vậy, thích ứng với BĐKH đang và sẽ phụ thuộc vào các hướng dẫn và cảnh báo từ các cơ quan trung ương hoặc các ban ngành liên quan cho đến khi địa phương được trang bị đủ năng lực. Vì lý do này, việc phát triển năng lực thích ứng BĐKH về mặt nhân lực ở các địa phương đang trở nên rất cấp thiết. Nhân lực địa phương phải đáp ứng các yêu cầu sau:

• có kiến thức và hiểu biết rộng về BĐKH;
• có đủ năng lực để đánh giá tác động của thiên tai và BĐKH ở cấp địa phương;
• có thể theo dõi giám sát và dự báo các xu hướng của BĐKH tại địa phương của mình;
• có thể kết hợp các biện pháp/hành động thích ứng BĐKH vào các chiến lược, chính sách và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội địa phương.

Dựa trên những phân tích ở trên, Thừa Thiên Huế được đề xuất là nơi thực hiện dự án.

Các nhóm mục tiêu: Các nhóm mục tiêu chính của dự án sẽ là người dân địa phương và cán bộ của chính quyền của hai xã (Quảng Thành và Hương Phong, của hai huyện Quảng Điền và Hương Trà) và tỉnh Thừa Thiên Huế.

Dự án cũng sẽ hướng đến các đối tượng ngoài nhóm mục tiêu chính thông qua phổ biến các tài liệu tập huấn dự án, văn bản/tóm tắt chính sách tổng kết các bài học kinh nghiệm và phản hồi hướng đến việc nhân rộng dự án tại tỉnh khác và các mục đích hỗ trợ chính sách.

MÔ TẢ DỰ ÁN

Dự án thích ứng BĐKH dựa vào cộng đồng sẽ cung cấp cơ sở khoa học cũng như nhận thức và khả năng thích ứng địa phương đối với BĐKH thông qua các trường hợp nghiên cứu điển hình ở các vùng đã chọn - một trong những khu vực dễ bị tổn thương nhất do BĐKH tại Việt Nam - tỉnh Thừa Thiên Huế. Dự án này có tính đặc thù ở khía cạnh lồng ghép các vấn đề và hành động địa phương vào chính sách phát triển ở cấp địa phương, cấp tỉnh và cấp quốc gia. Đề cương này sẽ chi tiết hóa các thành phần; kết quả dự kiến; các hoạt động cụ thể; phương pháp; ngân sách; và tiến độ dự kiến cho dự án thích ứng.

Hơn nữa, dự án sẽ được phát triển như là Chương trình (hợp tác) IREB/Quốc tế về BĐKH và Rủi ro (IPCRV) – điểm nghiên cứu thí điểm về BĐKH, nơi các nhà khoa học/cơ quan nghiên cứu Việt Nam và quốc tế sẽ tham gia trong tương lai.

Mục tiêu dự án

Dự án bao gồm 4 mục tiêu:

1. Đánh giá, tìm hiểu tính dễ bị tổn thương, những thay đổi và xu hướng của khí hậu ở tỉnh Thừa Thiên Huế thông qua trường hợp nghiên cứu điển hình tập trung đến vấn đề thích ứng với BĐKH (vùng ven sông và ven biển)
2. Nâng cao khả năng thích ứng BĐKH cho người dân địa phương bao gồm các hộ gia đình, cộng đồng, những cán bộ chủ chốt của địa phương và những người ra quyết định ở tỉnh TT Huế.
3. Tạo điều kiện tích hợp những giải pháp thích ứng BĐKH vào đời sống sinh kế hiện tại và tương lai cho người dân địa phương ở 2 xã đã chọn
4. Hỗ trợ các chính sách chính cho Chương trình mục tiêu quốc gia thích ứng với BĐKH của Bộ TN và MT, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và các chương trình phát triển của Tỉnh

Thời gian thực hiện:

Dự án sẽ được thực hiện trong 2 năm (2009-2011)
Hợp phần dự án

3 hợp phần chính:
(1) Đánh giá tính dễ bị tổn thương và khả năng thích ứng
(2) Nhận thức và tập huấn về thích ứng
(3) Lồng ghép và hỗ trợ chính sách
Mỗi hợp phần đều có một số biện pháp can thiệp

Hợp phần 1: Đánh giá tính dễ bị tổn thương và khả năng thích ứng

Kết quả 1: Nâng cao hiểu biết về tính dễ bị tổn thương và khả năng thích ứng địa phương đối với BĐKH thông qua 2 trường hợp nghiên cứu/đánh giá điển hình diễn ra ở 2 huyện Hương Trà và Quảng Điền ở TT Huế

Các chỉ thị chính:
• Các bên liên quan ở các cấp độ có thể hiểu /tiếp cận các báo cáo đánh giá/(báo cáo) case study có chất lượng
• Kết quả các case study được sử dụng để thiết kế cho hầu hết các hoạt động can thiệp thích hợp trong việc xây dựng cả năng thích ứng BĐKH tại khu vực dự án và cho các nhóm mục tiêu.
• Các nhà nghiên cứu địa phương, những người lập sách và những người lập kế hoạch ở các mức độ khác nhau đều hiểu rõ các kết quả của case study, quan trọng hơn cả là nâng cao hiểu biết cho họ về tính tổn thương và khả năng thích ứng của địa phương

Các hoạt đông:

1.1 Tổ chức hội thảo bàn về kế hoạch thực hiện dự án
1.2 Thành lập nhóm nghiên cứu/đánh giá; xây dựng phương pháp nghiên cứu và kế hoạch thực hiện chi tiết
1.3 Tiến hành nghiên cứu/đánh giá tính dễ bị tổn thương và khả năng thích ứng ở xã Quảng Thành và Hương Phong
1.4 Tổ chức 1 workshop về kết quả nghiên cứu/ đánh giá tính dễ bị tổn thương và khả năng thích ứng, đồng thời tiếp nhận ý kiến phản hồi
Lập hồ sơ và phổ biến kết quả nghiên cứu/đánh giá

Hợp phần 2: Nhận thức và tập huấn thích ứng

Kết quả 2: Nâng cao hiểu biết về tính dễ bị tổn thương và khả năng lồng ghép thích hợp những giái pháp thích ứng vào sinh kế, kinh tế-xã hội, chiến lược phát triển và các chương trình/kế hoạch vào các cấp hộ gia đình, làng xã, huyện và tỉnh

Các chỉ thị chính:

• Kết thúc năm đầu tiên thực hiện dự án có ít nhất 2 lớp nâng cao nhận thức/tập huấn cho những người nông dân ở 2 xã và 1 hội thảo cho chính quyền địa phương ở cấp độ xã, huyện, tỉnh về vấn đề tính dễ bị tổn thương của BĐKH và các giải pháp thích ứng được tổ chức
• Kết thúc dự án, có ít nhất 70% những người tham gia lớp tập huấn/nâng cao nhận thức hiểu được cơ bản và có khả năng sử dụng kiến thức thu được để bắt đầu kết áp dụng cho công việc của họ

Các hoạt đông:

2.1. Thiết kế chương trình tập huấn/nâng cao nhận thức về CC cho người nông dân (2 workshop), chính quyền địa phương từ cấp xã đến cấp tỉnh (1 workshop) dựa trên kết quả nghiên cứu và các kiến nghị của case study phase 1
2.2. Biên soạn tài liệu tập huấn
2.3. Tổ chức tập huấn/ tuyên truyền
2.4. Hoàn thiện tài liệu tập huấn và chuẩn bị báo cáo tập huấn

Hợp phần 3: Hỗ trợ chính sách

Kết quả 3: Các cán bộ có năng lực ở cấp địa phương, tỉnh và trung ương nắm rõ và sẵn sàng tích hợp các giải pháp và chính sách tối ưu nhất vào chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở cấp xã, cấp huyện, cấp tỉnh và cấp trung ương

Các chỉ thị chính:
• Kết quả đánh giá và các giải pháp thích ứng đã đề xuất được trình bày ít nhất 1 lần tại hội thảo mang tầm quốc gia trong suốt quá trình thực hiện dự án
• Cuối giai đoạn thực hiện dự án có ít nhất 50% các cán bộ nhà nước có liên quan đã được đào tạo hiểu rõ và có khả năng vận dụng các chính sách cũng như các giải pháp thích ứng vào công việc của họ
• 30% các chính sách và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội trong giao đoạn 2015-2020 ở cấp xã và cấp huyện có lồng ghép các vấn đề thích ứng BĐKH

Các hoạt đông:

3.1. Biên soạn báo cáo ngắn gọn các kết quả chính của phần đánh giá tính dễ bị tổn thương và khả năng thích ứng cũng như vạch ra những chính sách và giải pháp thích hợp nhất với địa phương
3.2. Tổ chức 1 hội thảo có sự tham gia của các cơ quan chính phủ, những người ra quyết định, những nhà hoạch định để trình bày kết quả của phần đánh giá tính dễ bị tổn thương và khả năng thích ứng, giới thiệu cho họ những chính sách và giải pháp thích ứng tối ưu nhất cho địa phương
3.3. Chuẩn bị 1 bài báo cáo về kết quả và kiến nghị từ component 1 để trình bày ở hội thảo quốc gia
3.4. Tạo điều kiện và hổ trợ cần thiết cho quá trình lồng ghép các chính sách và giải pháp thích ứng cho kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2015-2020 ở cấp xã và cấp tỉnh

Phụ lục 1 mô tả chương trình thực hiện dự án với các chỉ thị và giả định. Các chỉ thị và giả định này sẽ được giám sát chặt chẽ trong quá trong thực hiện dự án. Các chỉ thị và mục tiêu được đề ra, đặc biệt là các chỉ thị tác động có thể được chỉnh sửa khi bắt đầu dự án và có thể trong thời gian thực hiện dự án nếu có sự đồng ý giữa các bên tham gia và nhà tài trợ.

Xem chi tiết thời gian thực hiện dự án tại đây.


Thông tin liên quan
Báo cáo Tóm tắt tổng kết dự án FLC 09-04 và 10-04
Đánh giá tổng kết pha I
Proposal Dự án FLC 09-04 (Phần 2)

Bản quyền 2007-2012 Viện Tài nguyên, Môi trường và Công nghệ sinh học (IREB)-Đại học Huế
07 Đường Hà Nội, Huế
Tel/Fax: 054.3820438 - Email: ireb@hueuni.edu.vn